TRUNG TÂM THÔNG TIN DU HỌC VÀ XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

Tuyển CN May Lao Động Tại Nhật

Yêu Cầu : Nữ (số lượng :09 )/ Thời Gian: 03 Năm

Tuyển CN Chế Biến Hải Sản (Kn 1 Năm)

Làm Việc Tại Nhà Máy Hiện Đại , Đãi Ngộ Rất Tốt

Thủ Tục Vay Vốn Cho LĐ Tại Nhật

Với Quan hệ hữu nghị Việt - Nhật , Quỹ Hỗ trợ của NH Nhà Nước dành cho lao động tại Nhật là rất đáng quan tâm

Showing posts with label Lao động việc làm. Show all posts
Showing posts with label Lao động việc làm. Show all posts

Tuesday, July 15, 2014

Thị trường lao động đòi hỏi chất lượng cao - Cánh cửa đã hé mở

TTLĐ - Vừa qua, 138 điều dưỡng Việt Nam đã xuất cảnh sang làm việc tại Nhật Bản. Đây là những người đầu tiên sang Nhật Bản làm việc theo hình thức thực tập sinh, mở ra cánh cửa xuất khẩu lao động sang các thị trường đòi hỏi chất lượng cao.
Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội), 138 ứng viên đầu tiên sang Nhật Bản vừa học vừa làm việc trong thời gian tối đa 3 năm đối với điều dưỡng viên và tối đa 4 năm đối với hộ lý. Ứng viên điều dưỡng được dự thi Chứng chỉ quốc gia mỗi năm một lần, ứng viên hộ lý được dự thi Chứng chỉ quốc gia một lần vào năm thứ 4 sau khi đã làm công việc hộ lý trên 3 năm tại Nhật Bản. Nếu đỗ, các ứng viên sẽ được cấp Chứng chỉ quốc gia đối với điều dưỡng viên, hộ lý Nhật Bản và được phép ở lại làm việc dài hạn. Các ứng viên không thi đỗ chứng chỉ trong thời gian vừa học vừa làm tại Nhật Bản được phép quay lại Nhật Bản để dự thi mà không phải đáp ứng các điều kiện mới. Đặc biệt, không giống những chương trình hợp tác nhận thực tập sinh khác, lao động Việt Nam phải trở về sau một thời gian nhất định và không được trở lại Nhật Bản, trong chương trình thí điểm đưa điều dưỡng viên sang Nhật Bản làm việc, các ứng viên sau thời gian học tập và làm việc sẽ có cơ hội thi chứng chỉ nghề của Nhật Bản và ở lại làm việc lâu dài tại Nhật Bản.
Trước khi lên đường sang Nhật Bản làm điều dưỡng viên theo chương trình thí điểm giữa hai Chính phủ Việt Nam và Nhật Bản, chị Lê Thị Xuyên (quê ở xã An Hưng, huyện An Dương, TP Hải Phòng) cho biết: “Tôi quyết tâm sẽ thi đỗ chứng chỉ nghề của Nhật Bản để được ở lại Nhật Bản làm việc lâu dài. Tôi cho rằng, đây là một cơ hội tốt cho tôi và các bạn cùng đi đợt này. Chúng tôi sang Nhật Bản vừa được học tập, vừa được làm việc để nâng cao tay nghề. Nếu sau này có cơ hội, tôi sẽ xin về làm việc tại một cơ sở y tế nào đó tại Việt Nam”.

Thị trường lao động đòi hỏi chất lượng cao - Cánh cửa đã hé mở
Các điều dưỡng, hộ lý làm việc tại Nhật Bản.

Theo ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước: Khóa 1, chúng tôi đã tuyển chọn được 150 ứng viên để đào tạo. Song, chỉ có 138 người đạt yêu cầu trình độ tiếng Nhật N3 trở lên đủ điều kiện sang Nhật Bản làm việc. Hiện nay, Cục Quản lý lao động ngoài nước đã phối hợp với phía Nhật Bản giúp các ứng viên điều dưỡng, hộ lý lựa chọn được các cơ sở tiếp nhận theo nguyện vọng của họ. Đa số các ứng viên khi được sang Nhật Bản làm việc đều thể hiện quyết tâm thi được chứng chỉ của Nhật Bản, một số ứng viên còn lựa chọn những cơ sở y tế có chi nhánh ở Việt Nam để có thể trở về Việt Nam làm việc. Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh cho biết thêm: Trong thời gian tới, nhu cầu tuyển dụng thực tập sinh của Nhật Bản sẽ tăng cao, đặc biệt là ngành xây dựng. Chính vì vậy, Chính phủ Nhật Bản đã nới rộng yêu cầu tiếp nhận thực tập sinh trong ngành này, thời hạn lưu trú cho lao động ngành xây dựng tăng từ 3 năm lên 5 năm, đồng thời những thực tập sinh ngành xây dựng còn được phép quay lại Nhật Bản làm việc sau này.
Hiệu quả của việc đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài rất lớn, nó không chỉ giúp người lao động có thu nhập mà còn tạo cơ hội để đất nước có nguồn lao động có tay nghề sau khi người lao động về nước. Tuy nhiên, nếu cứ chạy theo số lượng và chỉ giới hạn ở những thị trường truyền thống như hiện nay thì hoạt động xuất khẩu lao động sẽ phải đối diện với nhiều khó khăn. Bởi theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), thị trường lao động thế giới hiện nay đã tăng gấp 4 lần so với năm 1980 và dự báo sẽ tiếp tục tăng gấp đôi vào năm 2050. Ở các nước phát triển, giới phân tích thị trường việc làm cho rằng, lao động chân tay sẽ không còn lợi thế, rơi vào thất nghiệp, thay vào đó là nhu cầu lao động có tay nghề, có kỹ thuật cao. Trong năm 2014, theo đánh giá của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, cánh cửa tiếp nhận lao động có trình độ của Việt Nam đang dần hé mở. Cụ thể, chương trình thí điểm đưa điều dưỡng viên, hộ lý Việt Nam sang Đức và Nhật Bản làm việc đang được triển khai khá thuận lợi, hé mở hy vọng mở rộng thị trường xuất khẩu lao động nghề điều dưỡng, hộ lý tại các nước phát triển.

Monday, July 14, 2014

Lao động hết hạn hợp đồng không về nước tại Hàn Quốc: Giảm nhưng chưa bền vững

TTLĐ - Sau 6 tháng thực hiện ''Biên bản ghi nhớ đặc biệt về phái cử và tiếp nhận lao động Việt Nam'' trong khuôn khổ Chương trình cấp phép việc làm cho lao động xuất khẩu của Hàn Quốc (Chương trình EPS) được ký kết ngày 31-12-2013, đến nay tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn tại Hàn Quốc đã bước đầu có sự chuyển biến.
Lao động hết hạn hợp đồng không về nước tại Hàn Quốc: Giảm nhưng chưa bền vững
Ảnh minh họa, nguồn internet
Ông Lương Đức Long, Phó Giám đốc Trung tâm Lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) cho biết, sau khi Bộ Lao động - Thương binh & Xã hội và Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quốc ký "Biên bản ghi nhớ đặc biệt về phái cử và tiếp nhận lao động Việt Nam" trong khuôn khổ Chương trình EPS, đến nay, số lao động Việt Nam được các chủ doanh nghiệp Hàn Quốc ký hợp đồng lao động lên tới 5.000 người.

Tuy nhiên, theo thông tin do Cơ quan phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc cung cấp, số lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng, ở lại cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc trong 6 tháng đầu năm 2014 có giảm nhưng chưa bền vững. Từ tháng 4 đến 6-2014, số lao động này vẫn xấp xỉ 39-40 %. Trước đó, tháng 12-2013, có lúc số lao động này giảm xuống dưới 40% nhưng tháng 2, 3-2014, tỷ lệ này tăng lên 40-42%, đặc biệt trong tháng 2-2014, tỷ lệ này tăng lên trên 50%.

Để thực hiện các giải pháp giảm tỷ lệ lao động bỏ trốn, ngoài tuyên truyền, vận động, Cục Quản lý Lao động ngoài nước và Trung tâm Lao động ngoài nước đã và đang phối hợp với Cơ quan đại diện Việt Nam tại Hàn Quốc tiến hành lập biên bản, xử lý vi phạm hành chính đối với những người cố tình ở lại cư trú bất hợp pháp sau khi hết hạn hợp đồng. Đồng thời, thực hiện Nghị định 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, các cơ quan chức năng đang thực hiện việc ký quỹ 100 triệu đối với những người đã được chủ lao động Hàn Quốc lựa chọn.

Với sự nỗ lực của Việt Nam, phía Hàn Quốc đã sửa Luật tuyển dụng đối với lao động nước ngoài, trong đó có việc sửa đổi cách thức chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. Cụ thể, thay vì chi trả mỗi năm một tháng lương tại Hàn Quốc, tới đây, ngày 19-7, phía Hàn Quốc sẽ thực hiện chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động Việt Nam về nước đúng hạn và xuất cảnh ở Hàn Quốc trong vòng 14 ngày, ngay tại Việt Nam.

"Biên bản ghi nhớ đặc biệt về phái cử và tiếp nhận lao động Việt Nam" trong khuôn khổ Chương trình EPS sắp hết hạn (31-12-2014), vì thế phía Hàn Quốc yêu cầu Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa trong việc giảm số lao động hết hạn hợp đồng ở lại cư trú bất hợp pháp, theo đó, phải giảm xuống dưới 30% thì Hàn Quốc mới có thể xem xét mở lại thị trường đối với lao động Việt Nam.

Sunday, July 13, 2014

Giảm tình trạng lao động Việt tại Hàn cư trú bất hợp pháp

TTLĐ - Sau 6 tháng thực hiện ''Biên bản ghi nhớ đặc biệt về phái cử và tiếp nhận lao động Việt Nam'' trong khuôn khổ Chương trình cấp phép việc làm cho lao động xuất khẩu của Hàn Quốc (Chương trình EPS) được ký kết ngày 31/12/2013, đến nay tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn tại Hàn Quốc đã bước đầu có sự chuyển biến.


Giảm tình trạng lao động Việt tại Hàn cư trú bất hợp pháp

Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Lương Đức Long, Phó Giám đốc Trung tâm Lao động ngoài nước (Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) về những giải pháp để tiếp tục giảm số lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng, ở lại cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc.


- Xin ông cho biết, từ đầu năm đến nay có bao nhiêu lao động Việt Nam được quay trở lại làm việc tại Hàn Quốc ? 

Phó giám đốc Lương Đức Long: Sau khi Bộ Lao động-Thương binh & Xã hội và Bộ Lao động và Việc làm Hàn Quốc ký "Biên bản ghi nhớ đặc biệt về phái cử và tiếp nhận lao động Việt Nam" trong khuôn khổ Chương trình EPS, đến nay, số lao động Việt Nam được các chủ doanh nghiệp Hàn Quốc ký hợp đồng lao động lên tới 5.000 người, trong đó, lao động mới đạt yêu cầu qua các kỳ thi tiếng Hàn là 3.570 người; lao động về nước đúng hạn sau khi hết hạn hợp đồng, đạt yêu cầu qua các kỳ thi tiếng Hàn được chủ lao động sử dụng lao động Hàn quốc lựa chọn là 1.450 người. 

Ngoài ra, số lao động trung thành, mẫu mực sau khi hết hạn hợp đồng về nước qua Trung tâm lao động ngoài nước nước đăng ký là trên 200 người, trong đó có 177 lao động đã xuất cảnh sang Hàn Quốc làm việc. 

Trong 6 tháng đầu năm, trong số 5.000 lao động được chủ sử dụng Hàn Quốc ký hợp đồng, có 4.810 lao động đã thực hiện ký quỹ 100 triệu đồng và 2.179 lao động đã xuất cảnh sang Hàn quốc làm việc. 

Có thể nói, với chính sách ưu đãi của phía Hàn Quốc, số lao động đã hết hạn hợp đồng về nước đúng hạn, muốn quay trở lại làm việc có hai đối tượng: lao động phải tham dự kỳ thi tiếng Hàn và lao động trung thành, mẫu mực. Số lượng lao động đăng ký tham dự hai kỳ thi tiếng Hàn quý I và II đã tăng lên đáng kể. Bên cạnh đó, số lao động trung thành, mẫu mực qua Trung tâm lao động ngoài nước để đăng ký làm thủ tục quay trở lại Hàn Quốc làm việc cũng tăng lên.

- Thưa ông, số lao động Việt Nam không về nước, ở lại cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc hiện nay đã giảm chưa và biện pháp nào để giảm số lao động này ? 

Phó Giám đốc Lương Đức Long: Từ đầu năm đến nay, dưới sự chỉ đạo của Bộ Lao động -Thương binh & Xã hội, các đơn vị chức năng đã phối hợp với Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh, thành phố có nhiều lao động hết hạn hợp đồng trong năm 2014 như Thái Nguyên, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Vĩnh Long... triển khai các biện pháp vận động, tuyên truyền lao động làm việc tại Hàn quốc về nước đúng hạn. 

Sau khi triển khai tại các tỉnh, thành phố, Cục Quản lý Lao động ngoài nước và Trung tâm Lao động ngoài nước tiếp tục tổ chức các hội nghị ở tuyến huyện. 

Nhìn chung, các địa phương đã có sự hợp tác, phối hợp tích cực, mời thân nhân lao động Hàn Quốc đang làm việc đến và đề nghị gia đình vận động người thân trở về đúng hạn. 

Văn phòng quản lý lao động Việt Nam theo Chương trình EPS tại Hàn Quốc cũng phối hợp với Ban quản lý lao động tại Hàn Quốc tổ chức tư vấn, vận động người lao động về nước. 

Đây là hoạt động được tổ chức tương đối liên tục, thường xuyên, có hiệu ứng nhất định đối với số lao động sẽ hết hạn hợp đồng về nước trong 6 tháng cuối năm 2014. 

Theo thông tin do Cơ quan phát triển nguồn nhân lực Hàn Quốc cung cấp, số lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng, ở lại cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc trong 6 tháng đầu năm 2014 có giảm nhưng chưa bền vững. 

Từ tháng 4 đến 6/2014, số lao động này vẫn xấp xỉ 39-40 %. Trước đó, tháng 12/2013, có lúc số lao động này giảm xuống dưới 40% nhưng tháng 2-3/2014, tỷ lệ này tăng lên 40-42%, đặc biệt trong tháng 2/2014, tỷ lệ này tăng lên trên 50%. 

- Phóng viên: Trước tình hình trên, ngoài tuyên truyền, Trung tâm Lao động ngoài nước sẽ có những biện pháp mạnh nào để tiếp tục giảm số lao động Việt Nam hết hạn hợp đồng, ở lại cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc, thưa ông?

Phó Giám đốc Lương Đức Long: Để thực hiện các giải pháp giảm tỷ lệ lao động bỏ trốn, ngoài tuyên truyền, vận động, Cục Quản lý Lao động ngoài nước và Trung tâm Lao động ngoài nước đã và đang phối hợp với Cơ quan đại diện Việt Nam tại Hàn Quốc tiến hành lập biên bản, xử lý vi phạm hành chính đối với những người cố tình ở lại cư trú bất hợp pháp sau khi hết hạn hợp đồng.

Đồng thời, thực hiện Nghị định 95/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, các cơ quan chức năng đang thực hiện việc ký quỹ 100 triệu đối với những người đã được chủ lao động Hàn Quốc lựa chọn. 

Với sự nỗ lực của Việt Nam, phía Hàn Quốc đã sửa Luật tuyển dụng đối với lao động nước ngoài, trong đó có việc sửa đổi cách thức chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động. 

Cụ thể, thay vì chi trả mỗi năm một tháng lương tại Hàn Quốc, tới đây, ngày 19/7, phía Hàn Quốc sẽ thực hiện chi trả trợ cấp thôi việc cho người lao động Việt Nam về nước đúng hạn và xuất cảnh ở Hàn Quốc trong vòng 14 ngày, ngay tại Việt Nam. 

"Biên bản ghi nhớ đặc biệt về phái cử và tiếp nhận lao động Việt Nam" trong khuôn khổ Chương trình EPS sắp hết hạn (31/12/2014), vì thế phía Hàn Quốc yêu cầu Việt Nam cần nỗ lực hơn nữa trong việc giảm số lao động hết hạn hợp đồng ở lại cư trú bất hợp pháp, theo đó, phải giảm xuống dưới 30% thì Hàn Quốc mới có thể xem xét mở lại thị trường đối với lao động Việt Nam. 

Hiện nay, nhiều người lao động vẫn chưa ý thức được nguy cơ đóng cửa thị trường lao động Hàn Quốc. Vì vậy, bản thân người lao động và gia đình của họ cần có ý thức trách nhiệm đối với lợi ích chung của cộng đồng. 

Đồng thời, chính quyền các địa phương (từ cấp quận, huyện, xã, phường) cần vào cuộc mạnh mẽ hơn nữa, thực hiện nghiêm chỉnh tinh thần chỉ thị 12/CT-TTg ngày 30/5/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý người lao động Việt Nam tại Hàn Quốc thì mới có thể giảm số lao động cư trú bất hợp pháp tại Hàn Quốc xuống dưới 30%.

Monday, June 30, 2014

Lãng phí nguồn nhân lực từng đi xuất khẩu lao động

TTLĐ - 50/63 tỉnh, thành phố không nắm được số liệu lao động đi làm việc ở nước ngoài về nước. Những người lao động này đều phải tự thân vận động, tự tìm việc làm hoặc tự tổ chức đầu tư, sản xuất kinh doanh, thậm chí là về nước thất nghiệp, không phát huy được kỹ năng, vốn, và trình độ ngoại ngữ sau thời gian làm việc ở nước ngoài. Đây là một thực tế được nêu ra tại hội thảo về chính sách tái hòa nhập thị trường lao động cho người lao động ở nước ngoài trở về vừa được Bộ LĐ-TB&XH tổ chức tại Hà Nội.


Trong khi đó, theo nghiên cứu của Viện Khoa học lao động và xã hội, chất lượng lao động của người lao động sau khi đi làm việc ở nước ngoài đã được cải thiện rõ rệt. Bà Trịnh Thu Nga, Viện Khoa học lao động và xã hội cho biết, đây là một thực tế cần được tính toán đến khi mà các chính sách hỗ trợ lao động trở về còn thiếu cụ thể, chỉ quy định chung chung trong Luật đưa người Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, chính quyền địa phương và đối tác xã hội trong việc hỗ trợ người lao động tái hòa nhập cộng đồng và thị trường lao động còn thiếu và yếu. Đặc biệt là việc không có cơ sở dữ liệu nào của lao động về nước.


Lãng phí nguồn nhân lực từng đi xuất khẩu lao động
Đào tạo nghề một cách bài bản giúp người lao động có nhiều cơ hội trên thị trường xuất khẩu lao động.
Liên quan đến vấn đề này, bà Mai Thúy Hằng, Trưởng phòng Tư vấn giải pháp nhân sự của Tập đoàn Manpower tại Việt Nam cho biết: “Trong quá trình tiếp xúc và khảo sát tại các doanh nghiệp, chúng tôi nhận thấy một thực tế, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tuyển lao động có những kỹ năng cần thiết cho họ, có tới hơn 70% khu vực đầu tư nước ngoài vào Việt Nam là ở khu vực sản xuất, chế tạo. Trong khi đó, có khoảng 49% lao động xuất khẩu của Việt Nam làm việc trong khu vực sản xuất chế tạo, được khẳng định về chất lượng tay nghề, tác phong công nghiệp, kỷ luật, ngoại ngữ khá tốt so với trước khi đi xuất khẩu”.


Một thực tế khá điển hình đang diễn ra ở Khu kinh tế Nghi Sơn (Thanh Hóa), các doanh nghiệp ở khối sản xuất chế tạo đều gặp vấn đề trong việc tuyển dụng lao động có kỹ năng. Các doanh nghiệp này có nhu cầu liên kết với các trường nghề để giải quyết kỹ năng nghề, với các trung tâm giới thiệu việc làm để đào tạo và tuyển nguồn lao động. Đặc biệt có nhu cầu cao trong việc tìm kiếm nguồn nhân lực làm tạm thời, ngắn hạn ngắn hạn, đáp ứng nhu cầu thời vụ của doanh nghiệp khi phải sản xuất các đơn hàng tăng đột biến. Các lao động xuất khẩu trở về cũng có thể xem đây là cơ hội để tiếp cận việc làm, làm thử để xem mình có thích nghi được với môi trường lao động trong nước không, trước khi quyết định tìm một công việc tại một công ty dài hạn.

Lãng phí nguồn nhân lực từng đi xuất khẩu lao động
Nhiều lao động làm việc tại Hàn Quốc về nước đúng hạn đã được tham gia khóa đào tạo để giới thiệu cho các doanh nghiệp Hàn Quốc với mức thu nhập ổn định.


“Chúng tôi rất mong muốn Bộ LĐ-TB&XH cùng các địa phương có thể tạo ra được cơ sở dữ liệu, tạo nguồn để các doanh nghiệp dịch vụ việc làm, doanh nghiệp trực tiếp sử dụng lao động có thể khai thác nguồn này, cung cấp nguồn nhân lực có kỹ năng cho doanh nghiệp, vừa giải quyết việc làm có thu nhập ngay cho lao động trở về, tránh sự lãng phí”, bà Hằng chia sẻ. 

Tận dụng trình độ tay nghề và các kỹ năng của lao động đi làm việc ở nước ngoài trở về là một hướng đi đúng đắn, cần phải có những chính sách thật cụ thể để vừa không lãng phí tiềm năng, vừa là giải pháp lâu dài bền vững, gìn giữ thành quả của người lao động đi xuất khẩu trở về. Để làm được điều này, ngoài việc hoàn thiện khung khổ pháp lý, cơ chế chính sách hỗ trợ lao động di cư, Bộ LĐ-TB&XH cùng các địa phương cần phải xây dựng được ngân hàng dữ liệu về lao động trở về, cập nhật thường xuyên để các doanh nghiệp, công ty, trung tâm dịch vụ việc làm có thể khai thác, kết nối thị trường lao động, giải quyết việc làm bền vững cho người lao động

Thursday, June 19, 2014

6 tháng, giải quyết việc làm cho hơn 750.000 người

TTLĐ - 6 tháng đầu năm, cả nước giải quyết việc làm cho 753.000 người, xuất khẩu lao động khoảng 50.000 người, các kết quả đạt được đều cao hơn so với cùng kỳ năm trước.
Theo Phó Cục trưởng Cục Việc làm Lê Quang Trung, công tác phát triển thị trường, thông tin, dự báo cung cầu lao động đã được triển khai đồng bộ tại các địa phương, tần suất các phiên giao dịch việc làm được tổ chức tăng dần.
6 tháng, giải quyết việc làm cho hơn 750.000 người
Đáng chú ý, xuất khẩu lao động đạt 50.000 người, bằng 125% so với cùng kỳ năm 2013, đạt 57% kế hoạch năm.
Bộ LĐTBXH đã thực hiện nhiều giải pháp để duy trì ổn định và phát triển các thị trường truyền thống tiếp nhận nhiều lao động như: Đài Loan, Malaysia, Trung Đông, Hàn Quốc... theo hướng chú trọng chất lượng lao động và mở rộng ngành nghề tiếp nhận, nhờ đó một số thị trường đã có mức tăng trưởng cao hơn so với cùng kỳ.
Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, hoạt động xuất khẩu lao động từ nay đến cuối năm sẽ khá sôi động. Cục đang nghiên cứu, hướng dẫn doanh nghiệp thực hiện hợp đồng tại các thị trường mới ở khu vực Tây Á-châu Phi; trao đổi và thống nhất các điều kiện hợp đồng để doanh nghiệp Việt Nam ký kết hợp tác lao động với Tập đoàn Amala (UAE); hợp tác tuyển chọn điều dưỡng viên sang học tập và làm việc tại CHLB Đức…
Chính sách bảo hiểm thất nghiệp cũng được thực hiện tốt, góp phần giảm bớt khó khăn, ổn định cuộc sống và giúp người lao động tìm được việc làm mới. Tính đến 20/5, đã có hơn 190.000 người đăng ký thất nghiệp, trong đó hơn 162.000 người đã có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, hơn 5.000 người được hỗ trợ học nghề.
Quản lý Nhà nước về tiền lương cũng có sự chuyển biến rõ rệt, tình trạng vi phạm pháp luật về lao động, tiền lương của các doanh nghiệp có xu hướng giảm. Tranh chấp lao động, đình công giảm 17 cuộc so với cùng kỳ năm trước, đời sống của người lao động từng bước được cải thiện.
Với công tác quản lý lao động nước ngoài, Bộ cũng đã có Công văn số 1651/LĐTBXH-VL ngày 19/5 đã chỉ đạo các Sở LĐTBXH 63 tỉnh, thành phố yêu cầu rà soát, tổng hợp và báo cáo về tình hình lao động, việc làm đối với người lao động nước ngoài làm việc trong doanh nghiệp. Đến tháng 5/2014, cả nước có hơn 70.000 người nước ngoài đã đăng ký làm thủ tục cấp giấy phép lao động.

Friday, June 13, 2014

TPHCM: 6 tháng cuối năm cần 150.000 vị trí việc làm

TTLĐ - Theo Sở LĐTBXH TPHCM, căn cứ chỉ tiêu tăng trưởng GDP của Thành phố và qua khảo sát nhu cầu nhân lực của các doanh nghiệp, trong 6 tháng cuối năm, Thành phố sẽ cần 150.000 vị trí việc làm.

Theo đó, quý III/2014, nhu cầu nhân lực khoảng 55.000 chỗ làm việc và quý IV/2014, khoảng 95.000 chỗ làm việc (trong đó 60.000 vị trí việc làm ổn định và 35.000 lao động thời vụ). 

TPHCM: 6 tháng cuối năm cần 150.000 vị trí việc làm
Nhu cầu tuyển dụng tiếp tục tập trung nhiều vào những ngành nghề Kinh doanh, Dịch vụ-phục vụ, Dệt may-giày da, Du lịch, Tư vấn-bảo hiểm, Cơ khí, Công nghệ thông tin, Điện tử, Điện-điện công nghiệp-điện lạnh, Bất động sản… với nhu cầu khoảng 40.000 lao động thời vụ. 

Xu hướng dịch chuyển lao động cuối năm 2014 sẽ không cao, người lao động đa phần muốn làm việc ổn định. Nhiều DN tiếp tục hoàn thiện bộ máy nhân sự để hoàn thiện kế hoạch sản xuất kinh doanh và chăm lo tốt tiền lương-phúc lợi cho người lao động năm 2014, đồng thời chuẩn bị phát triển sản xuất-kinh doanh năm 2015. 

Theo ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TPHCM, trong 6 tháng cuối năm 2014, thị trường lao động Thành phố sẽ ổn định, phát triển. Các nhà tuyển dụng ưu tiên tuyển dụng lao động chất lượng cao; tình trạng nhảy việc, dịch chuyển lao động giảm do sự ổn định sản xuất, kinh doanh của các ngành nghề của nền kinh tế. 

Vì vậy, để thị trường lao động Thành phố đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của thành phố, theo ông Trần Anh Tuấn, cần duy trì hiệu quả công tác thống kê cập nhật tình trạng lao động thất nghiệp, mất việc làm, di chuyển chỗ làm việc; tổ chức điều tra, khảo sát nhu cầu tuyển dụng nhân lực hằng tháng, hằng quý của các DN; nhu cầu tuyển dụng lao động, người có nhu cầu tìm việc tại các sàn giao dịch, trung tâm giới thiệu việc làm; tổ chức hệ thống mạng điện tử về kết nối thông tin giữa người lao động, sinh viên với DN… để nắm bắt kịp thời cung-cầu lao động của Thành phố.

Tuesday, June 10, 2014

''Cánh cửa'' thị trường thu nhập cao hé mở với lao động có trình độ

Bỏ lại cơ hội làm việc ở một bệnh viện lớn tại Hải Phòng, bạn Lê Thị Xuyên (quê ở xã An Hưng, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng) lên đường sang Nhật Bản làm điều dưỡng viên theo chương trình thí điểm giữa hai chính phủ Việt Nam và Nhật Bản. Xuyên tâm sự: ''Ban đầu em rất lo lắng khi nộp hồ sơ nhưng khi tham gia chương trình, em nhận thấy đây là một cơ hội quá tốt cho em để học nâng cao kinh nghiệm và kiếm thêm thu nhập cho gia đình.''

''Cánh cửa'' thị trường thu nhập cao hé mở với lao động có trình độ
Các ứng viên khóa đầu tiên học kiến thức về Nhật trước khi sang làm việc. 

Không những có cơ hội được nâng cao trình độ, Xuyên và 137 ứng viên khác của chương trình thí điểm đưa điều dưỡng viên sang Nhật Bản làm việc còn có cơ hội được ở lại làm việc lâu dài tại Nhật Bản. Như vậy, “cánh cửa” cho lao động có trình độ của Việt Nam đi làm việc ổn định, lâu dài ở các thị trường thu nhập cao đã bắt đầu hé mở.

Cơ hội làm việc lâu dài 

Bên cạnh tiếp nhận thực tập sinh ở những ngành nghề truyền thống, Việt Nam và Nhật Bản đã ký văn kiện xác nhận về cơ chế tiếp nhận điều dưỡng, hộ lý của Việt Nam sang Nhật Bản vào ngày 31/10/2011. Sau khóa 1 của chương trình thí điểm, 138 ứng viên đạt yêu cầu trình độ tiếng Nhật N3 trở lên đã sang làm việc tại các cơ sở y tế ở Nhật Bản vào ngày 5/6.

Đặc biệt, không giống những chương trình hợp tác nhận thực tập sinh khác, lao động Việt Nam phải trở về sau một thời gian nhất định và không được trở lại Nhật Bản, trong chương trình thí điểm đưa điều dưỡng viên sang Nhật Bản làm việc, các ứng viên sau thời gian học tập và làm việc sẽ có cơ hội thi chứng chỉ nghề của Nhật Bản và ở lại làm việc lâu dài tại Nhật Bản.

Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh, Cục trưởng Cục Quản lý lao động ngoài nước (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội) cho biết, cơ quan này đã phối hợp với phía Nhật Bản giúp các ứng viên điều dưỡng, hộ lý được lựa chọn được các cơ sở tiếp nhận theo nguyện vọng của các em.

Đa số các ứng viên khi được sang Nhật Bản làm việc đều thể hiện quyết tâm thi được chứng chỉ của Nhật Bản, một số ứng viên còn lựa chọn những cơ sở y tế có chi nhánh ở Việt Nam để có thể trở về Việt Nam làm việc.

Đàm Thị Lương (quê xã Tiền Phong, Huyện Thường Tín, Hà Nội) sẽ nhận công việc y tá tại cơ sở chăm sóc người già Hitsu Kojien tại tỉnh Chiba (Nhật Bản), cơ sở này vừa mới thành lập thêm chi nhánh tại Việt Nam. Lương tâm sự: “Em quyết tâm sẽ thi đỗ chứng chỉ y tá của Nhật Bản để được ở lại Nhật Bản làm việc lâu dài, nếu có cơ hội, em cũng sẽ xin về làm việc tại chi nhánh của cơ sở y tế đó tại Việt Nam.”

Trong những năm gần đây, số lượng thực tập sinh Việt Nam sang Nhật Bản ngày càng tăng, việc có thêm chương trình thí điểm đưa điều dưỡng viên sang Nhật làm việc cho thấy Chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu quan tâm tới việc tuyển dụng, đào tạo lao động Việt Nam có trình độ để sang Nhật Bản làm việc lâu dài.

''Cánh cửa'' thị trường thu nhập cao hé mở với lao động có trình độ
Các ứng viên điều dưỡng viên đi Nhật làm thủ tục trước khi ra sân bay. 

Nới rộng tuyển thực tập sinh ngành xây dựng

Nhu cầu tuyển dụng lao động nước ngoài của Nhật Bản rất lớn, mỗi năm tiếp nhận trên 100.000 thực tập sinh nước ngoài. Hiện nay, có khoảng 40.000 người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc tại Nhật Bản, trong đó có khoảng 20.000 thực tập sinh và lao động đang làm việc trong các ngành nghề với mức thu nhập hấp dẫn. Nhật Bản được đánh giá là thị trường tiềm năng rất lớn dành cho thực tập sinh Việt Nam.

Ông Nguyễn Ngọc Quỳnh cho biết, trong những năm gần đây, số lượng thực tập sinh Việt Nam sang Nhật Bản tăng dần, chỉ riêng năm 2013 con số này đã đạt trên 10.000 thực tập sinh.

Theo ông Quỳnh đánh giá, trong thời gian tới, nhu cầu tuyển dụng thực tập sinh của Nhật Bản sẽ tăng cao, đặc biệt là ngành xây dựng, chính vì vậy, Chính phủ Nhật Bản đã nới rộng yêu cầu tiếp nhận thực tập sinh trong ngành này, thời hạn lưu trú cho lao động ngành xây dựng tăng từ 3 năm lên 5 năm, những thực tập sinh ngành xây dựng còn được phép quay lại Nhật Bản.

"Nhật Bản sẽ tiếp nhận số lượng lớn lao động Việt Nam trong lĩnh vực xây dựng, trước mắt là phục vụ trong lĩnh vực xây dựng tại Nhật nhưng tương lai sẽ trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao đối với các doanh nghiệp xây dựng Nhật đầu tư tại Việt Nam," ông Quỳnh nhận định.

Mặt khác, đánh giá về tiềm năng đưa thêm lao động có trình độ kỹ thuật sang Nhật Bản làm việc, ông Nguyễn Gia Liêm, Trưởng Ban quản lý lao động Việt Nam tại Nhật Bản cho biết thêm, Nhật Bản cũng đang rất có nhu cầu tuyển dụng thực tập sinh ngành nông nghiệp, chế biến, may mặc. Mức lương trong lĩnh vực nông nghiệp tại Nhật Bản từ 800-1.500 USD/tháng, ngành may mặc khoảng 1.000 USD/tháng.

Ông Liêm cho rằng, đa số người Nhật đánh giá lao động Việt Nam chịu khó, tiếp thu nhanh nhưng năng lực tiếng Nhật còn hạn chế. Các doanh nghiệp nên tăng thời gian đào tạo tiếng Nhật cho lao động, chủ động mời người Nhật tham gia đào tạo cùng.

Thừa nhận việc học tiếng là khó khăn lớn nhất đối với thực tập sinh sang Nhật và rất cần phải được chú trọng, Lương tâm sự: “Chương trình đào tạo tiếng Nhật cho điều dưỡng viên đi Nhật chúng em được học tập trung, cuối tuần không được ra ngoài nên có nhiều thời gian học. Quá trình học, chúng em còn được tiếp xúc với giáo viên dạy tiếng Nhật nên khả năng giao tiếp bằng tiếng Nhật tốt hơn, tiến bộ nhanh hơn.”

“Đào tạo tiếng Nhật tốt sẽ giúp người lao động hòa nhập nhanh, dễ thích nghi với công việc và giảm tỷ lệ lao động bỏ trốn,” ông Liêm nhấn mạnh./.

Theo số liệu từ Cục Quản lý lao động ngoài nước, tổng số lao động đi làm việc ở nước ngoài trong tháng Năm là 11.099 lao động, nâng tổng số lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài trong 5 tháng đầu năm 2014 lên 45.458 lao động (16.568 lao động nữ). Trong đó, thị trường Đài Loan có 28.265 lao động, Nhật Bản có 6.659 lao động, Hàn Quốc có  2.595 lao động, Malaysia có 2.678 lao động.

Israel nâng mức hạn ngạch cho nhân công nước ngoài lên tới 15 ngàn người

TTLĐ - Ngày 8/6/2014 Nội các Israel đã chấp thuận nâng mức hạn ngạch cho nhân công nước ngoài trong ngành xây dựng lên 15 ngàn người cho tới năm 2019. Đây có thể là hướng mở cho lĩnh vực xuất khẩu lao động của Việt Nam…

Israel nâng mức hạn ngạch cho nhân công nước ngoài lên tới 15 ngàn người
Nhu cầu lao động ở đất nước Hồi giáo này đang tăng nhanh

Sau thời hạn này, số lao động nước ngoài sẽ dần giảm xuống 8 ngàn người vào tháng 7/2020 và 5 ngàn người vào tháng 7/2021. Sau thời điểm đó, chỉ còn 2 ngàn lao động nước ngoài trong ngành xây dựng được phép ở lại làm việc tại Israel.

Quyết định trên do Bộ trưởng xây dựng và Nhà ở Uri Ariel dự thảo - đã được sự ủng hộ của Thủ tướng Benyamin Netanyahu, Bộ trưởng Tài chính YairLapid, Bộ trưởng Ngoại giao Avigdor Libberman, Bộ trưởng Nội vụ Gideon Sa’ar và Bộ trưởng Kinh tế Naftali Bennett. Quyết định này tiếp theo quyết định ban bố vào tháng 7/2011 chấp thuận cấp giấy phép cho 5 ngàn lao động nước ngoài trong ngành xây dựng cho đến tháng 7/2014.

Quyết định của Nội các Israel tháng 7/2011 chấp thuận cho 8 ngàn lao động nước ngoài được sử dụng trong ngành xây dựng tại Israel vào bất kỳ thời điểm nào, mặc dù đã có một quyết định của Chính phủ Israel giảm thiểu số lao động này. Thời gian qua, Chính phủ chưa bao giờ đạt đến con số mục tiêu 8 ngàn người này, chủ yếu là vì chưa có thỏa thuận song phương được ký kết với một số nước có khả năng cung cấp lao động trong ngành xây dựng. Các nguồn tin hiện nay ước tính có khoảng 5 ngàn lao động nước ngoài trong ngành xây dựng tại Israel.

Các nguồn tin từ ngành công nghiệp bất động sản lâu nay vẫn thường nói về sự thiếu hụt lao động nước ngoài lành nghề trong ngành xây dựng đã làm chậm lại nhiều dự án và kéo dài thêm thời gian thi công xây dựng. Điều này duy trì cách nhìn nhận trên dù cho quyết định vừa đưa ra sẽ tăng hạn ngạch lao động xây dựng nước ngoài lên 15 ngàn người được thực thi.

Trước đây, khi nâng mức hạn ngạch lao động xây dựng nước ngoài lên 8 ngàn người, Chính phủ cũng lên kế hoạch đào tạo cho nhân công người Israel trong ngành xây dựng với các khóa học và các gói tài trợ. Lý do là để đào tạo một đội ngũ nhân công Israel dần thay thế số lao động nước ngoài bị cắt giảm hạn ngạch.

Friday, June 6, 2014

Thị trường Nhật Bản và xu hướng của người lao động Việt Nam

Vì sao việc làm tại công ty Nhật Bản thu hút nhiều người Việt Nam ?

Thị trường Nhật Bản và xu hướng của người lao động Việt Nam
Về “mức lương”
Nếu so sánh về mức lương giữa công ty Nhật Bản với công ty Việt và công ty nước ngoài khác sẽ thấy sự khác biệt sau: cùng độ tuổi, cùng chức vụ và cùng nội dung công việc nhưng đa phần mức lương của người lao động tại công ty Nhật cao hơn so với mức lương của lao động tại công ty trong nước và cả công ty đầu tư nước ngoài khác.
Ngoài mức Lương, các quyền lợi của người lao động tại công ty Nhật Bản luôn được xem trọng ví dụ như thang bảng lương nhân viên luôn được thực hiện đúng luật định, thường có chế độ xét tăng lương định kì.
Thêm vào đó, chế độ xét khen thưởng, tăng lương đối với nhân viên mới tại công ty Nhật cũng được xem xét dựa trên thực lực, thành tích và năng lực đối tượng có thể đóng góp cho công ty trong tương lai. Đây cũng được xem là điểm tốt của công ty Nhật.
Về “môi trường làm việc”
Trước đây tiếng Anh là ngôn ngữ giao tiếp chính trong công ty, nhưng gần đây càng nhiều công ty Nhật dùng tiếng Nhật làm ngôn ngữ chính giao tiếp chính. Vì vậy, có thể nói lý do đầu tiên người Việt chọn công ty Nhật là nơi làm việc vì ở đó có thể sử dụng tiếng Nhật mà bản thân đã và đang nỗ lực cố gắng học tập, và đó cũng là môi trường tốt để vừa rút kết kinh nghiệm chuyên môn vừa trao dồi khả năng tiếng Nhật.
Một điểm nữa là, người Nhật được cho là nghiêm khắc và luôn có tác phong trong công việc, và công việc dẫu có khó khăn đến mấy cũng không từ bỏ giữa chừng mà luôn cố gắng đến cùng. Người Nhật và công ty Nhật được đánh giá cao về tính chuyên nghiệp và tính kiên trì nhẫn nại nên sẽ là môi trường tuyệt vời và phù hợp với nguyện vọng của các bạn trẻ Việt Nam ngày nay muốn làm việc và trưởng thành trong môi trường mang tính chuyên nghiệp, thử thách.
Công ty Nhật luôn xem trọng mối quan hệ thân tín giữa công ty và người lao động, xem trọng sự nhận xét đánh giá từ xã hội nên họ luôn luôn tuân thủ pháp luật, tạo điều kiện và môi trường lao động an toàn nên có thể nói người lao động làm việc tại công ty Nhật thường không có sự bất mãn về vấn đề này, và an tâm làm việc lâu dài với công ty. Ngoài ra, cũng có công ty nhằm động viên khích lệ các nhân viên làm việc lâu năm bằng cách tồ chức du lịch Nhật Bản khi công ty đạt được mục tiêu, dự án đã đề ra.

Cần một hướng đi mới cho lao động Việt Nam

TTLĐ - Sau nhiều năm miệt mài học trên giảng đường, không ít cử nhân chấp nhận làm công việc chẳng liên quan gì tới ngành nghề được đào tạo, thậm chí làm lao động phổ thông. Nhiều bạn trẻ chia sẻ: Đi làm công việc này để kiếm sống đã, rồi tìm việc chuyên môn tính sau…

Chấp nhận làm trái ngành 
Tốt nghiệp đại học năm 2007 với tấm bằng cử nhân ngành Ngân hàng, Đoàn Thanh Thu (sinh năm 1985, quê Lạng Sơn) trúng tuyển vào vị trí nhân viên phòng giao dịch chi nhánh Lạng Sơn của một ngân hàng TMCP.
“Năm 2010, em lập gia đình và muốn xin chuyển về Hà Nội. Nhưng chưa được vì hệ thống nội bộ không còn chỗ để bố trí. Em đành nghỉ việc ở nhà sinh con. Năm 2013, em đi thi tuyển giao dịch viên ở nhiều ngân hàng nhưng khó quá vì xu hướng cắt giảm nhân sự” - Thu tâm sự. Trong khó khăn, cô tìm tới Trung tâm Giới thiệu Việc làm (TT GTVL) Thanh niên Hà Nội - Thành đoàn Hà Nội. Tham khảo hàng loạt vị trí tuyển dụng, Thu chọn công việc giúp việc gia đình theo giờ.
Với công việc dọn dẹp căn hộ, giặt giữ quần áo theo yêu cầu của các hộ gia đình, mỗi ngày Thu làm trung bình 3 ca. Cô tâm sự: “Mỗi ca khoảng 3 tiếng, giá từ 30 - 40 ngàn đồng/giờ. Công việc cũng không nặng nhọc lắm nhưng phải đi lại nhiều. Đặc biệt những ngày nắng nóng đầu hè, có khi em đi từ 10-15 km để tới các điểm làm việc”.
Sau gần 1 năm găn bó, dường như Thu vẫn chưa có ý định dừng lại công việc làm ô sin theo giờ đem lại thu nhập từ 7-8 triệu đồng. Cô cho rằng nghề này hơn đứt công việc nhân viên văn phòng ngồi 8 tiếng mà lương tháng chỉ 3-4 triệu đồng.
Cần một hướng đi mới cho lao động Việt Nam
Ứng viên tìm việc tại tới Trung tâm Giới thiệu Việc làm Thanh niên Hà Nội.
Đồng cảnh với Thu, cử nhân ngành Sư phạm Phan Văn Dũng (sinh năm 1989, quê Hà Tĩnh) ghi trong đơn tìm việc tại Trung tâm GTVL Thanh niên Hà Nội về nguyện vọng làm bảo vệ, giao hàng hoặc văn phòng với mức lương tháng khởi điểm 4 triệu đồng. Tốt nghiệp ngành Ngữ văn năm 2012, Dũng không có cơ may tìm được công việc giáo viên như nhiều bạn cũng khóa. “Ở đâu cũng bảo đủ người. Nếu có thì làm hợp đồng ngắn hạn mà tương lai cũng bấp bệnh quá. Em đành chọn tìm việc trái ngành ở một doanh nghiệp sản xuất tôn lợp” - Dũng cho biết.
Công việc kinh doanh đem lại cho Dũng thu nhập từ 5-6 triệu đồng/tháng nhưng cậu chẳng gắn bó được bao lâu. Áp lực công việc, môi trường làm việc va chạm khiến Dũng phải xin nghỉ. Nay với nguyện vọng tìm việc có tính giản đơn hơn, Dũng bộc bạch: “Với tấm bằng này, tôi phải vào các tỉnh phía Nam thì cơ may tìm được việc đúng chuyên ngành. Còn ở quê Hà Tĩnh thì cơ hội có chỉ tiêu nhận làm việc dài hạn khó lắm”.
Tốt nghiệp với tấm bằng cử nhân Cao đẳng ngành Điện năm 2010, Đặng Xuân Quang (sinh năm 1990, quê ở Quốc Oai, Hà Nội) làm công việc bảo trì ở một công ty dịch vụ phòng cháy chữa cháy ở Hà Nội được gần 1 năm. Quang tâm sự: “Công ty kinh doanh khó khăn, nhân sự cắt giảm nhiều. Tôi đi tìm việc ở một vài công ty khác nhưng khó quá. Nơi thì yêu cầu tôi phải sử dụng thành thạo máy CMC kỹ thuật mới trong khi tôi chưa hề biết. Chỗ khác thì chỉ trả lương 2-3 triệu đồng nhưng công việc quá giản đơn, buổi sáng khuân máy ra trước cửa hàng, tới chiều lại bê máy vào”.
Nghe lời bạn bè, Quang chấp nhận làm công việc bảo vệ cho một công ty dịch vụ bảo vệ tại Hà Nội với mức lương 4 triệu đồng. Chàng cử nhân ngành Điện tâm sự: “Nghề bảo vệ mất nhiều thời gian, ca kíp và nhiều chuyện phức tạp quá. Có lẽ tôi phải xin nghỉ tìm công việc mới”.
Tại sao cử nhân chấp nhận làm trái ngành?
Trong khi chờ đợi những cơ hội việc làm đứng với nguyện vọng của mình, Thu, Dũng và không ít cử nhân khác đang chấp nhận làm trái ngành nghề. Đứng từ góc độ “cầu nối” giữa ứng viên và nhà tuyển dụng, các chuyên gia về tư vấn việc làm đã cùng phân tích sâu hơn về vấn đề này.
Ứng viên tìm việc tại tới Trung tâm Giới thiệu Việc làm Thanh niên Hà Nội.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Trinh - Giám đốc Trung tâm GTVL Thanh niên Hà Nội (Thành đoàn Hà Nội) nhận định hiện có tình trạng thừa nhân lực có bằng cấp CĐ, ĐH. Chính vì vậy, ứng viên thuộc nhóm này phải chấp nhận các công việc lao động phổ thông ngắn hạn để có tiền để trang trải chi phí, học hỏi kinh nghiệm. Nhưng điều gì cũng có mặt trái. Không ít trường hợp thiếu sự cam kết làm việc công việc lâu dài, tâm lý nhấp nhổm.
Khảo sát mới đây của Trung tâm cho thấy, hơn 70% ứng viên trình độ CĐ, ĐH xin làm trái ngành nghề (gồm cả công việc lao động phổ thông) do thất nghiệp. Bà Trinh cũng tiết lộ một thực tế là ứng viên thuộc ngành Xã hội có xu hướng tìm việc trái ngành nghề hơn các ứng viên thuộc khối Kinh tế, Kỹ thuật.
Ứng viên tìm việc tại tới Trung tâm Giới thiệu Việc làm Thanh niên Hà Nội.
Theo ông Vũ Quang Thành - Phó giám đốc Trung tâm GTVL Hà Nội (Sở LĐ, TB & XH Hà Nội), kinh tế vài năm qua còn khó khăn, nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm hoặc giải thể. Trong khi đó, Hà Nội là nơi tập trung đông các trường CĐ, ĐH. Tình trạng thất nghiệp dồn ứ từ nhiều năm đã khiến tình trạng cử nhân chấp nhận làm trái ngành nghề càng trở nên rõ nét tại lúc này. Việc ít, người đông tất yếu dẫn tới thực trạng nhiều cử nhân đành chấp nhận tìm việc trái ngành, thậm chí là lao động phổ thông.
Ứng viên tìm việc tại tới Trung tâm Giới thiệu Việc làm Thanh niên Hà Nội.
Trong đánh giá của ông Phan Viết Hoàn - Giám đốc Cổng việc làm Mywork.vn, có 2 xu hướng chính trong số các bạn mới tốt nghiệp CĐ, ĐH. Một số bạn vào trường học không theo sự định hướng nghề nghiệp rõ ràng. Do vậy, họ phải chấp nhận làm những công việc trái ngành để có kinh nghiệm và thu nhập ban đầu.
Một số ít bạn trẻ năng động đã tự đi làm thêm từ những năm thứ 2, 3 thì khi ra trường họ bắt nhịp khá nhanh với công việc. Và đa số những bạn trẻ này đều có tâm lý chủ động và sáng suốt khi chọn cho mình công việc phù hợp.
“Tôi cho rằng các bạn trẻ phải quan tâm yêu nghề thực sự, chấp nhận trải nghiệm và va chạm để có kinh nghiệm thực tế. Về phía nhà trường, công tác định hướng nghề nghiệp ở cấp phổ thông và CĐ-ĐH cũng phải tăng cường hơn cho học sinh, sinh viên” - ông Hoàn đề xuất.

Saturday, May 31, 2014

Nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên học tiếng Nhật

TTLĐ - 9 doanh nghiệp đã tham gia ngày hội việc làm diễn ra sáng nay 31-5 tại trường Đại học Ngoại thương cơ sở tại quận Bình Thạnh, do trung tâm hợp tác nguồn nhân lực Việt Nam - Nhật Bản thành phố Hồ Chí Minh (VJCC-HCMC) phối hợp với Hiệp hội các doanh nghiệp Nhật Bản thành phố Hồ Chí Minh (JBAH) tổ chức.

Nhiều cơ hội việc làm cho sinh viên học tiếng Nhật

Tại ngày hội việc làm nhiều doanh nghiệp cho biết rất cần nguồn nhân lực biết tiếng Nhật để cung cấp cho các công ty tại Nhật, cũng như các công ty Nhật tại Việt Nam.

Công ty Esuhai chẳng hạn, hàng năm tuyển hơn 1.000 người cung cấp cho các công ty bên Nhật, hiện có hơn 1.000 học viên của trường đang làm việc tại hơn 200 công ty tại Nhật Bản.

Còn đại diện công ty cổ phần đối tác toàn cầu A.I. (AGS) cho biết trong năm nay công ty có nhu cầu tuyển hơn 100 nhân sự cho các vị trí khác nhau của công ty.

Chia sẻ kinh nghiệm làm việc của mình tại công ty Nhật anh Nguyễn Đình Phúc, (hơn 10 năm làm việc công ty HRnavi, I-Glocal) lưu ý với các tân cử nhân nếu muốn làm việc tại công ty Nhật ngoài chuyên môn ra người Nhật rất chú trọng đến thái độ làm việc. Người Nhật quan niêm thái độ làm việc của mỗi người sẽ ảnh hưởng đến tương lai của người đó cao nhất trong các yếu tố, ngoài ra các doanh nghiệp Nhật Bản thường không giới hạn trách nhiệm của mỗi người trong công ty và có tinh thần tập thể rất cao…

Phát biểu tại ngày hội ông Obayasi, Trưởng đại diện JBAH cho biết hàng năm các doanh nghiệp Nhật Bản tại TPHCM cũng như các doanh nghiệp của Nhật tại các nước và ngay tại nước Nhật có nhu cầu tuyển dụng nguồn nhân lực rất lớn để phát triển sản xuất, khẳng định danh tiếng của mình trên thị trường.

Nắm bắt được nhu cầu tìm việc của những sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường là rất lớn nên hàng năm hiệp hội các doanh nghiệp Nhận Bản tại thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các cơ quan sở tại giao lưu trực tiếp với sinh viên, tìm hiểu nhu cầu nguyện vọng của mỗi người để từ đó lấy thông tin cho các doanh nghiệp bổ sung thêm nguồn nhân lực của các doanh nghiệp hàng năm…

TPHCM: cần 20.000 lao động trong tháng 6

Theo trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TPHCM, thị trường lao động thành phố tháng 06/2014 dự kiến có nhu cầu tuyển dụng 20.000 chỗ làm việc, trong đó nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp trong các Khu chế xuất – Khu công nghiệp là 5.000 chỗ làm việc.

Về trình độ chuyên môn, nhu cầu tuyển dụng đối với lao động phổ thông – sơ cấp nghề 37%, công nhân kỹ thuật – trung cấp 30%, cao đẳng 16%, đại học – trên đại học 17%

Trong tháng 5/2014, nhu cầu tuyển dụng lao động với số lượng nhiều là các công việc như dịch vụ phục vụ, kinh doanh – bán hàng, kế toán - kiểm toán, marketing, dịch vụ thông tin tư vấn – chăm sóc khách hàng, hay trong các ngành giày da, công nghệ thông tin, cơ khí tự động hóa, công nghệ ô tô – xe máy, dệt – may…

So với tháng 4/2014, nhu cầu tuyển dụng lao động phổ thông tăng 27,69%. Nhu cầu tuyển dụng công nhân kỹ thuật, sơ cấp nghề, trung cấp nghề tăng 57,4% tập trung ở một số ngành dệt may – giày da, nhà hàng – khách sạn…

Lao động phổ thông chiếm 35,23% trong tổng nhu cầu tuyển dụng, sơ cấp nghề (2,57%), công nhân kỹ thuật (7,84%), trung cấp (22,08%) , cao đẳng (16,52%), đại học (14,72%), trên đại học (1,03%).

Nóng chuyện tuổi nghỉ hưu

TTLĐ - Quốc hội đã nghe tờ trình và thảo luận về dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) và một trong những vấn đề được đại biểu cũng như dư luận ''phản ánh'' gay gắt nhất chính là việc quy định tuổi nghỉ hưu của nam là 62 và nữ là 60. Nâng tuổi nghỉ hưu, ai được lợi và ai không muốn nghỉ hưu muộn? Nếu lo lắng ''vỡ'' Quỹ bảo hiểm xã hội mà người lao động phải ''làm thêm'' từ 2-5 năm thì điều gì sẽ xảy ra...?

Nóng chuyện tuổi nghỉ hưu

Nghỉ hưu - với rất nhiều người - là câu chuyện lớn và không đơn giản. Với người có chức vụ cao, có nhiều chế độ đãi ngộ, có xe đưa đón, có lương cao... thì ngày nhận quyết định nghỉ hưu được xem như một “ngày buồn”. Không phải ai cũng xác định rõ tư tưởng, có thái độ bình thản khi nhận quyết định nghỉ hưu - đồng nghĩa với không chỉ chia tay đồng nghiệp mà còn là “chia tay” cả với các chế độ đãi ngộ, với quyền lực và bổng lộc.

Nhưng bên cạnh đó, cũng có rất nhiều người không hề muốn kéo dài tuổi nghỉ hưu, chỉ muốn “dứt điểm” nhanh với công việc chính để có thể nghỉ ngơi, hưởng lương hưu và... làm thêm việc khác. Với nhiều cảnh huống trái chiều, thậm chí trái khoáy như thế, đề xuất nâng tuổi nghỉ hưu như đã nói trong dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội (sửa đổi) có nhiều chuyện đáng bàn.

“Tôi muốn nghỉ hưu sớm”

Chiều tối, trong ngõ nhỏ nhà tôi, chiếc xe chở rác lặc lè chất ngất, đằng sau là người phụ nữ bé nhỏ đang gò lưng mà đẩy. Ngước lên, rút vội chiếc khăn lau khuôn mặt đỏ bừng với mồ hôi đầm đìa, chị than thở: “Chú thấy đấy, vất vả thế này mà người ta đang tính kéo dài tuổi làm việc của chúng tôi đến 60. Không biết đến lúc ấy, chúng tôi lấy đâu ra sức mà đẩy cái xe rác thế này nữa?”. Chị công nhân vệ sinh ấy là một trong những người không hề muốn kéo dài tuổi làm việc, ngược lại, còn muốn Nhà nước xem xét cho nghỉ sớm hơn quy định hiện nay. 

Trên thực tế, đúng là không phải ai cũng thích làm việc mãi, không thích về hưu ở tuổi 55 với nữ hay 60 với nam. Bởi, có những nghề nghiệp cực kỳ nặng nhọc, độc hại như sửa chữa vũ khí, thu gom rác thải, giám định pháp y... người lao động chịu rất nhiều ảnh hưởng xấu đến sức khỏe. Với họ, nghỉ hưu ở tuổi 55 hay 60 rõ ràng không có lợi, thậm chí còn bị vắt kiệt sức dẫn đến bệnh tật và... tuổi thọ ngắn chứ không dài mà hưởng lương hưu theo chế độ bảo hiểm xã hội. 

Dù Nhà nước đã có hẳn một danh mục nghề nghiệp nặng nhọc, độc hại cũng như các chế độ phụ cấp thì rất nhiều người cho rằng, chỉ muốn có lương xứng đáng và... được nghỉ hưu sớm hơn quy định. Có như thế, họ mới có điều kiện nghỉ ngơi, phục hồi sức khỏe và kéo dài tuổi thọ. Nếu nay luật sửa đổi, kéo dài tuổi hưu chắc chắn “kính chẳng bõ phiền” khi mà sức khỏe xuống dốc, không đảm bảo chất lượng công việc, ảnh hưởng đến thu nhập - nghĩa là ba bề bốn bên đều thấy... bất cập.

Ai muốn... lâu nghỉ hưu?

Câu hỏi này đã được chính các đại biểu Quốc hội trả lời: “Có một phần cán bộ sáng cắp ô đi, tối cắp ô về mà xã hội vẫn phải chăm lo trong khi không đóng góp gì”. Như đã nói ở phần trên, trong tổng thành lao động các ngành nghề trong xã hội hiện nay, có một bộ phận không nhỏ người hưởng lương không thiếu một đồng nhưng làm việc với tinh thần “cơm nhà chúa, múa tối ngày”, bớt xén giờ làm, ngày làm để lo việc riêng; bên cạnh đó, là một số những người “không thể chấp nhận được” chuyện thiếu xe đưa đón, thiếu bổng lộc, thiếu ưu đãi. 

Với những người thuộc dạng này, nghỉ hưu đồng nghĩa với “mất hết” nên họ rất không muốn nghỉ hưu, thậm chí đủ tuổi nghỉ hưu rồi còn tính chuyện “chạy chọt” kéo dài thêm một ít thời gian nữa. Và, với tin sửa luật để kéo dài tuổi nghỉ hưu - với họ - thật sự đáng coi là “tin mừng”, chế độ đãi ngộ được kéo dài hơn, bổng lộc nhận được nhiều hơn... chứ Quỹ Bảo hiểm xã hội có “vỡ” hay không, họ chẳng mảy may quan tâm. Thực tế này đã nhiều lần được báo chí, dư luận “nói rõ” rồi chứ không phải các nhà soạn thảo Luật Bảo hiểm xã hội không biết.

Nghỉ hưu muộn: Chưa chắc đã tích cực

Các tính toán chi ly đã được các nhà làm luật đưa ra để chứng minh, nếu không kéo dài tuổi nghỉ hưu, Quỹ Bảo hiểm xã hội sẽ có nguy cơ đổ vỡ. Tuy nhiên, có một vấn đề mà chưa thấy rõ những con số thuyết phục. Kéo dài tuổi nghỉ hưu, vậy thì nhà nước có cách nào thanh lọc những người lười biếng, chất lượng làm việc thấp? Nền hành chính đang ngày một cồng kềnh, việc tinh giản bộ máy, giảm bớt lượng công chức, viên chức bấy lâu nay vẫn làm nhưng hiệu quả không cao, nay lại kéo dài tuổi làm việc, liệu có sớm quá không khi dự báo, bộ khung cán bộ, công chức hành chính càng có nguy cơ quá tải, đi ngược lại những gì mà chúng ta đã cố gắng bấy lâu nay? Lượng công chức, viên chức không được tinh giản bớt, ngân sách nhà nước dành cho chi trả lương do vậy càng rơi vào thế thường xuyên bội chi thì làm sao chúng ta có thể tăng dự trữ, tích lũy vốn liếng mà tái đầu tư cho phúc lợi?

Một chuyện khác cũng vô cùng bức xúc, chính là tuổi nghỉ hưu mới - nếu được Quốc hội thông qua - còn tạo nên một “con đê” ngăn cản việc trẻ hóa đội ngũ lao động. Hàng vạn sinh viên tốt nghiệp đại học hiện nay, số phải chịu cảnh thất nghiệp đã rất lớn, nếu lại bị chắn đường bởi “các bác 60, 62” thì biết ngày nào mới có chỗ đứng chân trong cơ quan, công sở? 

Như nhiều nước trên thế giới đã nếm trải, đội ngũ lao động sàng trẻ hóa bao nhiêu, sức sáng tạo, sự năng động càng lớn bấy nhiêu và hệ quả tất yếu là chất lượng và hiệu quả công việc cũng nâng lên. Không lẽ một người lao động ở tuổi 30 lại không có nhiều sức khỏe, không thể làm việc tốt hơn người đã 60, 62 tuổi? Không lẽ một đội ngũ lao động với quá nhiều những người tuổi 60 lại có thể làm ra nhiều của cải, vật chất, có nhiều năng động sáng taọ hơn những công chức, viên chức, người lao động ở tuổi 30-40 sao?

Phân hóa tuổi nghỉ hưu: Tại sao không?

Đây là phản ánh từ chính dư luận, và cũng được đa số các vị đại biểu Quốc hội chuyển tải trong kỳ họp thứ 7 đang diễn ra. Theo đó, chỉ nâng tuổi nghỉ hưu với người có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao, người làm công tác quản lý và một số trường hợp đặc biệt để đảm bảo đồng bộ giữa các luật, không lãng phí nguồn lực chất xám với lao động chuyên môn cao. 

Với việc phân hóa tuổi nghỉ hưu theo nhóm ngành, nhóm nghề, nhóm đối tượng như thế rõ ràng có nhiều lợi ích. Trước hết, với những đối tượng có tay nghề, có năng lực, có sức khỏe thì hoàn toàn có thể nâng tuổi nghỉ hưu để họ có điều kiện cống hiến cũng như nhà nước không lãng phí nhân lực. 

Bên cạnh đó, với những người, những nghề có nhiều tổn hại cho sức khỏe, nên quy định tuổi về hưu sớm hơn đi kèm theo đó là mức đóng bảo hiểm xã hội phù hợp để người lao động được nghỉ hưu đúng nghĩa chứ không vì quy định cứng nhắc mà biến họ thành “cái vỏ chanh hết nước” với đủ thứ bệnh tật khiến gánh nặng chăm sóc y tế cũng trở nên nặng nề theo. 

Đặc biệt, Nhà nước cũng rất cần tổng kết, đánh giá và chuẩn hóa các quy định để người lao động có thể xin nghỉ hưu trước tuổi - vừa đáp ứng nhu cầu chính đáng của người lao động, vừa tạo điều kiện tinh giản bộ máy - với những chế độ riêng về lương hưu, chế độ bảo hiểm. 
Thời gian vừa qua, thực tế ở nhiều cơ quan khi áp dụng việc xin nghỉ hưu trước thời hạn đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho sắp xếp, bố tri cán bộ, giảm nhẹ gánh nặng chi phí hành chính, trẻ hóa đội ngũ cán bộ, nhân viên và cuối cùng là nâng cao chất lượng công việc, hoàn thành các nhiệm vụ được giao.

Đúng là Quỹ Bảo hiểm xã hội có nguy cơ vỡ, song rất cần phải trao đổi thẳng với nhau rằng, không nên vì thế mà cần kéo dài tuổi nghỉ hưu. Người lao động nên và cần có thời gian đủ để nghỉ ngơi, hưởng phúc lợi xã hội chứ không phải về nhà với sự kiệt quệ sức khỏe cùng một cơ số bệnh tật. 

Trong khi đó, Quỹ Bảo hiểm xã hội hiện còn đang bị nợ quá nhiều từ các chủ sử dụng lao động, cần phải được ngăn chặn bằng các chế tài nghiêm khắc hơn từ phía Nhà nước. Một khi đảm bảo đủ nguồn vào cho Quỹ Bảo hiểm xã hội, chắc chắn nguy cơ vỡ Quỹ sẽ được giảm bớt đáng kể.

Một quốc gia mạnh luôn là một quốc gia có lực lượng lao động trẻ khỏe, nhiều sức lực nhất chứ không phải là có quá nhiều người già tham gia làm việc. Bởi thế, tuổi nghỉ hưu cần được cân  nhắc, tính toán cho thích hợp - và nếu được thì nên tính sớm việc hạ độ tuổi nghỉ hưu như chúng ta đã tính toán giảm số giờ làm việc. Không nên chỉ vì một câu chuyện của Quỹ Bảo hiểm xã hội mà khiến cho “nảy nòi” quá nhiều hệ lụy, tốn kém về lâu về dài...

Monday, May 26, 2014

Trăm năm nghề tổ, làm để cho... vui

TTLĐ - Từ một xã thuần nông, xã Thái Mỹ (huyện Củ Chi) đã trở thành một vùng nông thôn mới điển hình của TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn đang dần làm cho làng nghề đan lát hơn 100 năm của xã này ngày càng mai một...

Trăm năm nghề tổ, làm để cho... vui
Đan lát các mặt hàng truyền thống tại xã Thái Mỹ, huyện Củ Chi.

"Ngày xưa dân ở đây còn nghèo, chỉ biết quanh quẩn bên ruộng vườn, đan lát nuôi sống gia đình. Từ khi xã thực hiện xây dựng nông thôn mới, cuộc sống của người dân ở đây khá hơn, xã còn giới thiệu việc làm, rồi hỗ trợ cho đi xuất khẩu lao động nước ngoài. Giờ chỉ có đàn bà, trẻ con ở nhà đan thúng, nia, dần, sàng..., chủ yếu là làm cho vui, khỏi quên nghề ông bà truyền lại", bà Nguyễn Thị Hoa (ấp Bình Thượng 1) tâm tình.

Theo UBND xã Thái Mỹ, đan lát từng là một nghề đem lại thu nhập ổn định cho người dân xã Thái Mỹ với gần 1.800 hộ làm nghề, sản xuất các mặt hàng như: thúng, nia, dần, sàng, giỏ xách... Không chỉ cung ứng cho thị trường trong nước, sản phẩm của làng nghề còn được xuất khẩu sang Nhật Bản, lãnh thổ Đài Loan (Trung Quốc), Hồng Công (Trung Quốc), Hàn Quốc... Giờ đây, số người làm nghề đan lát ngày càng giảm, số lượng các mặt hàng không còn đủ để đáp ứng nhu cầu xuất khẩu.

Ông Lê Văn Đảm, người chuyên thu mua các sản phẩm đan lát của xã Thái Mỹ cho biết: Đan lát từng là một nghề "cơm áo" của người dân ở đây, một thời từng được xem là động lực phát triển kinh tế của xã. Từ khi kinh tế thay đổi sang hướng công nghiệp, thanh niên đổ xô vào các khu công nghiệp để làm công nhân, lên thành phố hay đi xuất khẩu lao động hết rồi. Giờ đây chỉ còn vài trăm hộ còn theo nghề. Nhiều khi có đơn hàng lớn, tôi chẳng thể tìm đủ sản phẩm đáp ứng.

Dù bị cạnh tranh rất mạnh từ các sản phẩm làm từ nhựa, nhôm, inox... nhưng nhu cầu về các sản phẩm truyền thống, mang nguồn gốc tự nhiên và không gây ảnh hưởng đến sức khỏe trên thị trường vẫn còn rất lớn. Hiện nay, các mặt hàng mây, tre đan của Việt Nam đã được xuất khẩu đến hơn 120 quốc gia, nhưng chỉ chiếm 3% giá trị trên thị trường, trong đó hai thị trường lớn nhất là Mỹ và Nhật Bản luôn có tiềm năng rất lớn để mở rộng xuất khẩu.

Năm 2013, dù UBND xã Thái Mỹ đã có nhiều động thái nhằm phát triển và bảo tồn nghề đan lát như hỗ trợ nguyên, vật liệu, trồng tre nguyên liệu, hỗ trợ vay vốn, giới thiệu sản phẩm đến các festival làng nghề truyền thống... nhưng vẫn không mang lại hiệu quả thiết thực, số hộ dân theo nghề vẫn ngày càng ít đi.

Bà Lê Thị Huých, chủ cơ sở Thiên Long (ấp Mỹ Khánh A) cho biết: Cơ sở chỉ sản xuất duy nhất mặt hàng sọt tre, đây không phải là mặt hàng truyền thống của xã Thái Mỹ, mà chỉ là sản phẩm làm ra để đáp ứng nhu cầu thị trường nhất thời. Sọt tre đơn giản và dễ làm nhưng nhân lực để đáp ứng nhu cầu sản xuất vẫn rất khó khăn.

Thiết nghĩ, chính quyền địa phương, các sở, ngành liên quan của thành phố cần có một chiến lược thực tế và khả thi hơn như hỗ trợ nhân sự qua đào tạo, hỗ trợ tiền cho nghệ nhân cao tuổi, hỗ trợ thêm vốn cho nông dân trồng nguyên liệu... nhằm giúp làng nghề Thái Mỹ có một hướng đi bền vững trong tương lai.